Sở Khoa Học Công Nghệ    
 
 
 
Liên kết website
Skip portlet Portlet Menu
 
 
 
 
Hoạt động Sở, Ngành
(21/01/2019)

Trong thời gian qua, thực hiện đề án tái cơ cấu nông nghiệp & Chương trình hành động của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp đến 2020 và định hướng 2025, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang rau, màu và cây ăn trái giai đoạn 2017 – 2020”. Kết quả thực hiện mang lại như sau:

Về diện tích chuyển đổi: Qua tổng hợp từ các địa phương, trong giai đoạn 2017-2018 đã chuyển đổi cây trồng từ đất lúa sang cây trồng khác là 11.163, bao gồm: Rau dưa các loại: 4.608 ha; rau màu: 4.115 ha; cây ăn trái: 2.440 ha.

Nhìn chung, qua quá trình thực hiện nhận thấy có sự thay đổi tích cực, về hiệu quả kinh tế mang lại trong việc chuyển đổi từ đất lúa sang cây trồng khác, gia tăng thu nhập đáng kể cho người nông dân, cụ thể: theo báo cáo kết quả điều tra giá thành sản xuất lúa vụ Hè Thu 2018 của Sở Tài chính thì lợi nhuận bình quân cho 1ha lúa là 8.762.292 đồng, trong khi đó 1 số loại cây rau màu (Ớt, Sen lấy ngó, Bắp trắng, dưa leo…) có lợi nhuận cho 1 ha từ 30.937.000 đồng đến 80.498.000 đồng. Riêng đối với cây ăn trái lợi nhuận cho 1 ha Xoài Đài Loan, Nhãn, Bưởi, … dao động từ 70.135.000 đồng - 170.862.000 đồng. Điều đó cho thấy hiệu quả kinh tế của cây rau màu gấp 7-8 lần so với trồng lúa, và trên cây ăn trái gấp 10-50 lần so với trồng lúa, người nông dân thu lợi nhuận nhiều hơn khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên nền đất lúa kém hiệu quả.

Bên cạnh việc mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn thì việc chuyển đổi cây trồng hiện nay còn gặp phải 1 số khó khăn như sau: Chưa có dự báo về nhu cầu sản phẩm cây rau màu, cây ăn trái: số lượng, chủng loại, giá cả và khả năng tiêu thụ; Việc tiêu thụ sản phẩm khó khăn, trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy chế biến nhiều và chưa có nhiều doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm; Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, một số vùng chưa hoàn thiện hệ thống thủy lợi, nhất là đê bao, cống bọng, để phục vụ cho vùng màu, cây ăn trái có diện tích lớn; Sản xuất nhỏ lẻ, chưa tạo được vùng sản xuất tập trung, gây khó khăn cho việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào canh tác, kiểm soát chất lượng, tiêu thụ nông sản và việc tưới tiêu.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2019: Tỉnh sẽ tiếp tục triển khai nhanh Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; triển khai các quy hoạch sản phẩm, quy hoạch vùng sản xuất và các gói hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, thị trường cho các sản phẩm (lúa, rau an toàn, bắp lai, nấm ăn, bò thịt, tôm càng xanh, hoa-cây kiểng), trong quá trình triển khai sẽ thực hiện điều chỉnh, bổ sung các ngành hàng có lợi thế so sánh so với các vùng miền trên thế giới. Phối hợp đưa các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh tiếp cận thị trường thông qua đề án khung chính sách, đưa các mặt hàng chủ lực của tỉnh tiếp cận, thiết lập, xâm nhập và các hệ thống phân phối trong và ngoài nước.

Thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy số 08 gắn với tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnhGiang, trong đó tập trung triển khai thực hiện những quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và lựa chọn sản xuất một số sản phẩm công nghệ cao mà thị trường cần mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho người nông dân, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm phục vụ cho xuất khẩu.

Thực hiện chuyển dịch đất lúa kém hiệu quả sang những loại cây hoa màu có giá trị kinh tế cao hơn. Xây dựng kế hoạch chuyển đổi từ lúa sang màu năm 2019. Triển khai áp dụng chương trình “3 giảm, 3 tăng” và “1 phải, 5 giảm”, mở rộng áp dụng Global GAP, Viet GAP để giảm giá thành, nâng cao năng suất và lợi nhuận cho người dân. Triển khai tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo 2016-2020, thay đổi cơ cấu giống lúa gieo trồng theo hướng tăng những giống lúa chất lượng cao có thương hiệu được doanh nghiệp bao tiêu với giá mua được đặt trước.

Tiếp tục thực hiện và nhân rộng các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, nhân rộng mô hình “Cánh đồng lớn gắn với thực hiện các mô hình kinh tế hợp tác của HTX kiểu mới, liên kết từ cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra trong sản xuất và cung cấp các dịch vụ khác. Đánh giá, tổng kết vai trò kinh tế hợp tác của các HTX kiểu mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, thực hiện các chính sách tín dụng hỗ trợ của tỉnh và Trung ương đối với việc phát triển hợp tác xã, kinh tế hợp tác.

Tăng cường phổ biến các chính sách khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp, HTX, THT, người dân vào nông nghiệp, nông thôn và triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để đến cuối năm 2019 đảm bảo có tối thiểu 57 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới. Tập trung chỉ đạo xã điểm và chỉ đạo xây dựng nông thôn mới trên diện rộng. Tăng cường hơn nữa công tác vận động tuyên truyền, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, làm rõ mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới, quyền lợi và vai trò của người dân để tranh thủ sự đồng tình của toàn dân tham gia. Tăng cường công tác mời gọi đầu tư các doanh nghiệp về nông thôn; chủ động tranh thủ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các nhà mạnh thường quân và nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới.

Tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp xây dựng và mở rộng vùng nguyên liệu, kết hợp đầu tư nhà máy sơ chế, kho bảo quản, tồn trữ sản phẩm gần vùng nguyên liệu. Đồng thời, thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với Hợp tác xã, Tổ hợp tác tham gia vào mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tiếp tục thực hiện chuỗi liên kết của Công ty cổ phần rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) cho sản phẩm đậu nành rau và bắp non. Song song, kêu gọi các doanh nghiệp khác tham gia đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu rau màu trên địa bàn tỉnh An Giang.

Xây dựng các điểm bán hàng nông sản, trong đó có rau an toàn tại các chợ, siêu thị, sẽ nghiên cứu các phương thức bán hàng phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng. Ưu tiên phân bổ nguồn vốn thủy lợi phí để đầu tư hệ thống thủy lợi và vốn bảo vệ đất lúa, đầu tư phục vụ các vùng chuyển đổi từ lúa sang trồng màu và cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn; hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi vùng trồng hoa màu nhưng chưa ổn định hoặc trồng màu luân canh lúa chuyển sang chuyên trồng màu; đầu tư thủy lợi công nghệ cao để chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu…

Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn ODA để phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi, tập trung đầu tư từng vùng sản xuất gắn với các mô hình sinh kế nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng thu nhập của người dân trong vùng, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.

Tăng cường chuyển giao kỹ thuật canh tác theo quy trình “3 giảm, 3 tăng” và “1 phải, 5 giảm”. Duy trì mạng lưới nhân giống lúa nhằm cung cấp giống lúa xác nhận có khả năng phục vụ được 90% diện tích sản xuất lúa hàng hóa của tỉnh; Nâng cấp hoạt động của mạng lưới nhân lúa giống xác nhận cộng đồng trong tỉnh theo hướng chứng nhận chất lượng lô giống lúa phù hợp quy chuẩn kỹ thuật nhằm từng bước đáp ứng điều kiện thương mại hóa giống lúa./.

                                                                        Nguyễn Hùng

Trang1 trong 6
2
trong 6
3
trong 6
4 trong 6
5 trong 6
6 trong 6

 
 
 
 
Skip portlet Portlet Menu
Skip portlet Portlet Menu
Đang tải video..
Skip portlet Portlet Menu

Thông tin cần biết
  Skip portlet Portlet Menu
 
 
 
 
Chịu trách nhiệm: Trương Kiến Thọ - Phó Giám đốc - Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang.
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ An Giang.
Giấy phép số: 02/GP-TTĐT ngày 27/10/2015 - Cơ quan cấp phép: Sở Thông tin và Truyền thông An Giang.
Điện thoại: (02963) 852212 - Fax: (02963) 854598 ** E-mail: sokhcn@angiang.gov.vn